 |
| văn miếu Xích Đằng |
Theo các tài liệu còn ghi lại ở Văn Miếu thì thế kỷ XVII dưới thời Lê Thánh Tông, đề chấn hưng lại đạo nho, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám ở các trấn. ở trấn Sơn Nam ( gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) là Văn Miếu Sơn Nam ( Văn Miếu Xích Đằng khi đó) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn. Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý các trấn dưới các triều hậu, Lê , Tây Sơn, nhà Nguyễn, Văn Miếu Xích Đằng trở thành Văn Miếu của Trấn Sơn Nam thượng và sau này là của tỉnh Hưng Yên.
Cũng theo những gì được ghi chép lại trên quả chuông và khánh còn lưu giữ ở Văn Miếu thì sở dĩ Văn Miếu có tên là Văn Miếu Xích Đằng vì nó được xây dựng trên nền của chùa Nguyệt Đường, làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, Tổng An Tảo, huyện Kim Động xưa, nay là Phường Lam Sơn, TP Hưng Yên. Hiện nay phía sau Văn Miếu vẫn còn hai di tích của ngôi chùa Nguyệt Đường còn lưu lại là hai tháp đá, phương trượng tháp và Tịnh Mãn Tháp. Trước đây diện tích của Văn Miếu Xích Đằng rất nhỏ hẹp, phải đến cuộc đại trùng tu vào thời Minh Mệnh thứ 20, tức năm Kỷ Hợi (1839) đời vua Nguyễn Thánh Tổ ( 1840- 1840) quy mô của văn miếu mới được mở rộng như ngày nay.
Văn Miếu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ tam, bao gồm: Tiền tế, trung từ và hậu cung hệ thống mái của các toà được làm liên hoàn kiểu " Trùng thiềm điệp ốc," mặt tiền Văn Miếu quay hướng Nam, cổng nghi môn được xây dựng đồ sộ, bề thế mang dáng dấp cổng Văn Miếu Hà Nội. Phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông và lầu khánh cùng hai dãy tả vu, hữu vu.Khu nội tự gồm: Tiền tế, Trưng Từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn. Toàn bộ khu nội Tự Văn Miếu toả sáng bởi hệ thống đại tự, câu đối cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim rất đẹp.
Hiện vật quý giá nhất của Văn Miếu là 9 tấm bia đá khắc tên tuổi, quê quán, chức vụ 161 vị đỗ đại khoa ở Trấn Sơn Nam thượng ngày xưa ( trong đó tỉnh Hưng Yên có 138 vị, tỉnh Thái bình 23 vị thuộc các triều đại Trần, Mạc, Lê đến Nguyễn. Học vị cao nhất là Trạng Nguyên Tống Trân người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ,) đời Trần Trạng Nguyên Nguyễn Kỳ ( người xã Bình Dân, huyện Đông An), triều Mạc trạng nguyên Dương Phúc Tư ( người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm) triều Lê chức vụ cao nhất là tiến sĩ Lê Như Hổ, Quận Công Triều mạc. Ngoài ra còn có một số dòng họ đỗ đạt cao như họ Dương ở Lạc đạo ( Văn Lâm), họ Vũ, họ Hoàng ở Ân Thi; họ Lê Hữu ở Lưu Xá ( Yên Mỹ)…Một số huyện có nhiều nhà khoa bảng như Văn Giang, Ân Thi, Yên Mỹ, Tiên Nữ, Kim Động.
Văn Miếu xưa có 2 mùa lễ hội, trọng hội là ngày 10 tháng 2 và 10 tháng 8 Hàng năm, cứ vào các ngày trọng hội, các vị nho học và quan đầu tỉnh phải đến Văn Miếu tế lễ để thể hiện nề nếp nho phong, tôn sư trọng đạo. làm gương cho con cháu, cầu mong sự nghiệp giáo dục ngày càng tiến bộ.
Ngày nay hàng năm cứ vào ngày đầu xuân tại Văn Miếu có tổ chức sinh hoạt văn hoá như tế lễ, dâng hương, triển lãm thư pháp, hát ca trù…ngoài ra vào mùa thi, thanh thiếu niên học sinh về Văn Miếu tìm hiểu truyền thống hiếu học của cha ông và thắp nhang cầu mong cho sự học hành ngày càng phát triển.
Với gần 400 năm tồn tại và ghi danh 161 vị hiền tài đỗ đại khoa của Trấn Sơn Nam Thượng. Văn Miếu Xích Đằng đã trở thành một biểu tượng về truyền thống hiếu học của người dân mảnh đất chỉ đứng sau Kinh Kỳ, đồng thời cũng là một di tích lịch sử- văn hoá quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến, Hưng Yên.